Hotline: 098 8533 790

Tin tức khác / Du học Thụy Sỹ

TỔNG QUAN VỀ ĐẤT NƯỚC THUỴ SỸ (tiếp theo)
Ngày đăng: 30-12-2014

X. THÀNH PHỐ.

Thụy Sỹ là một quốc gia yên bình với những ngôi nhà cổ kính soi bóng xuống hồ nước, những con phố nhỏ không bao giờ đông đúc và những con người hiếu khách, nhẹ nhàng. Các thành phố lớn tại Thụy Sỹ như thủ đô Bern, Zurich, Geneva, Basel, Lausanne luôn dẫn đầu bảng xếp 10 thành phố lý tưởng nhất thế giới dựa vào những tiêu chuẩn về cơ sở hạ tầng, mức sống, môi trường, khí hậu, văn hóa, du lịch.

Bern

Một góc thủ đô Bern

 

Những ngôi nhà cổ tại thủ đô Bern

 

Bern là thủ đô của Thụy Sỹ, và cũng là thủ phủ của bang cùng tên.

Là trung tâm của chính phủ, thành phố có trụ sở của các bộ liên bang và một số trụ sở của các cơ quan liên bang, bao gồm Ngân hàng quốc gia. Tại đây cũng có trụ sở của Univeral Postal Union, một trong những cơ quan đặc biệt của Liên Hợp Quốc. Thêm vào đó đây cũng là trung tâm của các dịch vụ công cộng, như Bưu chính Thụy Sỹ (bưu điện do nhà nước quản lý) và Đường sắt liên bang Thụy Sỹ. Thành phố có một sân bay nhỏ ở ngoại ô Belp. Mặc dù Zurich là đầu mối đường sắt chính của Thụy Sỹ, Bern có một dịch vụ đường sắt trực tiếp tới vài thành phố chính của Thụy Sỹ, cũng như tới các thành phố Châu Âu như Paris, Berlin, Barcelona và Milan.

  • Bang: Bern
  • Diện tích: 51.6 km2 (19.92 dặm vuông)
  • Dân số(thành phố): 122,178 (2005)
  • Dân số (toàn bộ): 349,096 (tháng 12.2000)
  • Độ cao trên mực nước biển: 540 m (1772ft)
  • Ngôn ngữ: Bern sử dụng tiếng Đức  

Trong tất cả những thành phố của Thụy Sỹ, Berne - thủ đô của Thụy Sỹ - có lẽ là thành phố xinh đẹp nhất. Thành phố ngàn tuổi này nằm trên một bán đảo ở khúc quanh của sông Aare, Bern nổi bật với những ngõ hẻm rải sỏi nối những ngôi nhà có mái vòm, tuy đã thay đổi phần nào qua hơn năm trăm năm bằng sự tô điểm của những cửa hàng hiện đại, xe hơi và xe điện. Xung quanh thành phố là đồi núi và những bờ sông dốc đứng với nhiều cây cối. Quang cảnh của những cụm mái nhà trong phố cổ và dãy Alps uy nghi ở cuối chân trời trông cực kì ngoạn mục.

Những kiến trúc lâu đài, tháp chuông, mái vòm cổ kính, đài phun nước, tượng đài cổ…  đã thuyết phục được UNESCO công nhận Bern danh hiệu Di sản thế giới. Bên cạnh đó, vẻ đẹp bình dị từ những dãy nhà cổ kính được tô điểm bởi những chậu hoa, những con đường lát đá mài thủ công tồn tại từ 5, 6 thế kỷ nay và những dãy phố cổ mái ngói rêu phong mang đến cho những ai tới Bernngoạn cảnh những cảm xúc thật sâu lắng.

Lịch sử ghi nhận nơi đây đã phải trải qua bao thăng trầm của chiến tranh, hỏa hoạn. Nhưng rồi thành phố vẫn được các thế hệ giữ gìn và trở thành một trong những thành phố được xếp có mức sống cao nhất trên thế giới.

Zurich

Nhà thờ cổ tại thành phố Zurich

 

Ẩn mình giữa những ngọn đồi cây cối rậm rạp, Zurich nằm ở phía cuối hồ Zurich mà từ đó sông Limmat  hình thành, chia thành phố có từ thời trung cổ này làm hai.

 

Zurich là thủ phủ của bang cùng tên. Bang nằm dọc theo sông Limmat từ nơi nó chảy ra khỏi hồ Zurich, và là thành phố lớn nhất Thụy Sỹ.

Thành phố là một trung tâm văn hóa, và trong các cuộc thăm dò quốc tế thường xuyên được bầu chọn là một trong những thành phố để sống được ưa chuộng nhất trên thế giới. Trong thế kỷ 19 và 20 thành phố đặc biệt hấp dẫn các nhà văn, họa sĩ và các nhà soạn nhạc lừng danh. Phố Bahnhofstrasse là một trong những con phố mua sắm chính của Thụy Sỹ.

Tờ Neue Zürcher Zeitung ("New Zurich Newspaper") là tờ báo uy tín nhất Thụy Sỹ. Báo được phát hành lần đầu năm 1780, và là một trong những tờ báo bằng tiếng Đức lâu đời nhất còn tồn tại.

Thành phố cũng là nhà của Đại học Zurich và một trong hai Viện Công nghệ Liên bang nổi tiếng, Viện ETHZ. Từ năm 1975 đến 2002 riêng Viện ETHZ đã có 7 giải Nobel khoa học.

Sân bay lớn nhất của Thụy Sỹ nằm tại Kloten gần Zurich. Thành phố cũng là một đầu mối đường sắt quan trọng. Về vận tải công cộng, Zurich có mạng lưới giao thông công cộng được phục vụ tốt nhất trên thế giới.

  • Bang: Zurich
  • Diện tích: 99.88 km2 (38.56 dặm vuông)
  • Dân số (thành phố): 347,517 (2005)
  • Dân số (toàn bộ): 1,080,000 (điều tra dân số năm 2000)
  • Độ cao trên mực nước biển: 408 m (1339 ft)
  • Ngôn ngữ: Zurich sử dụng tiếng Đức 

Thành phố Zurich nằm soi bóng bên sông Limmat, thuộc khu vực đông bắc Thụy Sỹ, và ở phía cực bắc khu vực hồ Zurich, cách dãy núi Alps khoảng 30km. Bao quanh thành phố là nhiều đồi núi và các rừng cây trải dài theo các sườn núi từ tây sang đông, là những hành lang sinh học quý giá cho môi trường trong lành của thành phố, dù bị cắt khúc bởi hệ thống đường sá. Zurich được xem là “cửa ngõ vào Alps”.

Bên cạnh những công trình kiến trúc kỳ vĩ, Zurich còn có vô số sự kiện, liên hoan văn hóa diễn ra suốt năm. Trong đó, nổi tiếng nhất là lễ hội đường phố diễn ra vào ngày thứ bảy thứ hai của tháng tám, được tổ chức trên các con đường dọc theo hồ Zurich. Thành phố có hơn 50 bảo tàng và nhà hát, cũng là nơi tập trung các ngân hàng, thị trường chứng khoán, các tập đoàn quốc tế, các công ty truyền thông.

Với dân số chỉ khoảng 400.000 người, nhưng Zurich lại có hơn 500 điểm vui chơi giải trí về đêm, khiến cho thành phố này sánh ngang với Paris và Berlin về mức độ sôi động. Thành phố là trung tâm thương mại và văn hóa chính của Thụy Sỹ, Theo một điều tra vào năm 2006, đây là thành phố với chất lượng cuộc sống tốt nhất trên thế giới. Bên cạnh đó, Zurich dẫn đầu thế giới về ngành ngân hàng. Hoạt động tài chính chiếm 1/4 hoạt động kinh tế của thành phố và Thị trường chứng khoán Thụy Sỹ cũng tọa lạc tại Zurich.

Basel

Được xem là một trong những con sông đẹp nhất Châu Âu, sông Rhine khởi nguồn từ Grisons ở dãy núi Alps của Thụy Sỹ, chảy qua Đức và sau đó là đổ mình ra Biển Bắc ở Hà Lan.

 

Basel là thủ phủ của bang Basel City, nằm ở phía tây bắc Thụy Sỹ, tại điểm nơi sông Rhine uốn cong về phía bắc. Thành phố có đường biên giới với cả Đức và Pháp và là một phần của vùng Upper Rhine Euroregion, bao gồm vùng viên giới của ba quốc gia.

Basel là trung tâm của ngành công nghiệp hóa chất và dược phẩm Thụy Sỹ. Các hãng dược phẩm nổi tiếng Novartis và Roche không chỉ có nguồn gốc tại Basel, mà còn có cả trụ sở chính và cơ sở sản xuất.

Sông Rhine chia thành phố thành hai phần. Nửa bên trái là Grossbasel (Greater Basel), và bên phải là Kleinbasel (Lesser Basel). Basel không chỉ là một đầu mối đường sắt quan trọng và là trung tâm phân phối hàng hóa của Đường sắt Liên bang Thụy Sỹ, mà còn có một sân bay, Euro Airport, chung với thành phố Mulhouse của Pháp và Freiburg của Đức. (Hầu hết sân bay được xây trên đất Pháp). Thụy Sĩ có bốn cảng sông Rhine cũng nằm trong hoặc gần Basel.

  • Bang: Basel-City
  • Diện tích: 37 km2 (14.29 dặm vuông)
  • Dân số (thành phố): 163,930 (2005)
  • Dân số (tổng hợp): 479,308 (điều tra dân số năm 2000)
  • Độ cao trên mực nước biển: 244 m (800 ft)
  • Ngôn ngữ: Basel sử dụng tiếng Đức 

Geneva

Một góc thành phố Geneva bên bờ hồ

 

Đài phun nước trên hồ Geneva

 

Geneva là thủ phủ của bang cùng tên, và là thành phố lớn thứ hai của Thụy Sỹ. Thành phố nằm ở hướng tây nam, gần biên giới với Pháp, tại đầu phía tây của hồ Geneva, nơi sông Rhone chảy ra khỏi hồ.

Một số tổ chức quốc tế đặt trụ sở tại Geneva. Bao gồm trụ sở châu Âu của Liên hợp quốc, Ủy ban quốc tế của Hội Chữ thập đỏ (ICRC), Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Hội đồng cấp cao Liên hợp quốc về người tị nạn và CERN - Hội đồng Châu Âu về nghiên cứu hạt nhân.

Đây cũng là địa điểm của trụ sở Diễn dàn Kinh tế Thế giới (WEF)

Geneva cũng nổi tiếng về đồng hồ. Con dấu Geneva Seal, hay Poinçon de Genève, là một dấu xác nhận tiêu chuẩn chất lượng chỉ được dành cho những dòng sản phẩm đồng hồ sang trọng được lựa chọn tuân theo các tiêu chuẩn chặt chẽ. Hàng năm Gevena tổ chức một hội chợ đặc biệt, hội chợ quốc tế International Salon về sản xuất đồng hồ uy tín.

Geneva cũng được biết đến bởi triển lãm xe hơi, được tổ chức hàng năm vào tháng ba. Các hội chợ khác được tổ chức ở Geneva gồm có Hội chợ của những nhà sáng chế và Hội chợ sách.

Thành phố có sân bay lớn thứ hai của Thụy Sỹ, Cointrin. Sân bay kết nối trực tiếp vớiParis bằng đường sắt, và cả với Milan, qua thung lũng Rhone. Bên trong lãnh thổ Thụy Sỹ có các chuyến tàu trực tiếp từ Geneva tới hồ Constance ở phía đối diện của đất nước chạy qua Bern và Zurich.

Trong các cuộc khảo sát quốc tế xếp hạng chất lượng sống ở các thành phố trên thế giới, Geneva thường đứng gần đầu bảng xếp hạng.

  • Bang: Geneva
  • Diện tích: 158.60 km2 (61.24 dặm vuông)
  • Dân số (thành phố): 178,722 (2005)
  • Dân số (toàn bộ): 470,000 (điều tra dân số năm 2000)
  • Độ cao trên mực nước biển: 375 m (1230 ft)
  • Ngôn ngữ: tiếng Pháp

Lausanne 

 Cảng Ouchy

 

Cổng vào Bảo tàng Olympic

 

Lausanne là thủ phủ của bang Vaud, nằm bên hồ Geneva trong vùng nói tiếng Pháp của Thụy Sỹ.

Đây là thành phố lớn thứ năm của Thụy Sỹ, và là trung tâm quản trị và kinh tế chính tại phía tây đất nước sau Geneva.

Lausanne có trụ sở của Ủy ban Olympic Quốc tế (IOC). Một số các liên đoàn thể thao quốc tế cũng có trụ sở trong thành phố: bóng bàn, bóng chuyền, bóng chày, kiếm thuật, đấu vật, bơi, bắn cung, các môn thể thao trên không, và chèo thuyền.

Lausanne là nhà của một trong hai Viện Công nghệ Liên bang của Thụy Sỹ, Viện EPFL (Viện còn lại – ETHZ - nằm tại Zurich). Tại đây còn có trụ sở của Tòa án Tối cao Liên bang.

Lausanne là một đầu mối đường sắt quan trọng, nằm trên đường từ Bern tới Geneva. Thành phố được kết nối trực tiếp với Paris và cũng là cửa ngõ tới thung lũng Rhone.

  • Bang: Vaud
  • Diện tích: 41.37 km2 (15.97 dặm vuông)
  • Dân số (thành phố): 117,388 (2005)
  • Dân số (toàn bộ): 311,441 (điều tra dân số năm 2000)
  • Độ cao trên mực nước biển: 375-900 m (1230 – 2950 ft)
  • Ngôn ngữ: tiếng Pháp

Winterthur

Winterthur Hauptbahnhof  Station

 

Một góc nhìn thành phố Winterthur cũ

 

Winterthur là thành phố lớn thứ hai trong bang Zurich. Thành phố nằm trên bờ sông Eulach, khoảng 28 km (17 dặm) phía đông bắc Zurich.

Winterthur nổi tiếng về ngành công nghiệp kỹ thuật - động cơ diesel, máy dệt, và đầu máy tàu hỏa.

Thành phố cũng nổi tiếng là một trung tâm văn hóa, và có nickname là “Thành phố của các Bảo tàng”. Trong thành phố có rất nhiều bảo tàng nghệ thuật – bao gồm một bảo tàng nhiếp ảnh – nhưng cũng là nhà của bảo tàng khoa học thực hành Technorama.

Thành phố nằm ở phía đông cách sân bay Kloten của Zurich 25 km (15,5 dặm), trên tuyến đường sắt nối  Zurich và St. Gallen hay hồ Constance.

  • Bang: Zurich
  • Diện tích: 67.93km2 (26.23 dặm vuông)
  • Dân số: 93,546 (2005)
  • Độ cao trên mực nước biển: 439 m (1440 ft)
  • Ngôn ngữ: tiếng Đức 

St Gallen

Thư viện Abbey, thành phố St. Gallen, Thụy S

 

St. Gallen là thủ phủ của bang cùng tên, nằm ở vùng đông bắc Thụy Sỹ. Thành phố nằm trong một thung lũng giữa hai dãy đồi, và có nickname là “thành phố một nghìn bậc” bởi vì có nhiều bậc được tạo nên trên các quả đồi.

Thành phố là trung tâm kinh tế của miền đông Thụy Sỹ. Ngành công nghiệp dệt trên nền vải lanh có từ thế kỷ 15. Thành phố trở nên nổi tiếng không chỉ bởi sản lượng lanh, mà còn bởi kỹ thuật thêu trang trí. Nhằm giữ vị trí đứng đầu, thành phố đã đóng một vai trò tiên phong trong việc cơ khí hóa ngành công nghiệp này. Thành phố đã trải qua vài đợt khủng hoảng trong ngành và ngày nay cả các sản phẩm dệt và máy móc thêu đều có tiếng tăm trên tầm quốc tế.

Thành phố là một đầu mối đường sắt cho miền đông Thụy Sỹ. Có một đường sắt xuyên suốt tới sân bay Zurich, Zurich, Bern, Geneva và sân bay Geneva. Thành phố cũng được nối bằng đường sắt với thung lũng Rhine, hồ Constance và miền trung Thụy Sỹ. Sân bay nhỏ của St. Gallen – Altenrhein trên biên giới với Áo chủ yếu bay tới Vienna, và cũng được sử dụng bởi dịch vụ vận chuyển tư nhân.

Tuy nhiên, đa số các doanh nghiệp của thành phố giờ đây hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ. Các ngành công nghiệp phi dịch vụ quan trọng là kỹ thuật, giấy và in, và dệt.

Trường đại học của thành phố, được thành lập năm 1898 như một “học viện thương mại” (Handelsakademie) chuyên về kinh doanh, kinh tế, luật và các ngành khoa học xã hội. Trường được xem như là một trong những trường đại học hàng đầu của Châu Âu về kinh tế.

Thành phố được nhận giải thưởng Wakker năm 1992. Giải thưởng hàng năm của Hội Di sản Thụy Sỹ (Schweizer Heimatschutz) dành tặng cho một hội đồng đã hòa hợp được những di sản.

  • Bang: St Gallen
  • Diện tích: 39.41 km2 (15.22 dặm vuông)
  • Dân số (thành phố): 70,316, (2005)
  • Dân số (toàn bộ): 146,385 (điều tra dân số năm 2000)
  • Độ cao trên mực nước biển: 675 (2,215 ft)
  • Ngôn ngữ: St Gallen sử dụng tiếng Đức 

Lucerne

Cây cầu gỗ cổ nhất Châu Âu tại thành phố Lucerne

 

Dạo chơi bên hồ của thành phố Lucerne

 

Lucerne (tiếng Đức: Luzern) là thủ phủ của bang có cùng tên. Thành phố nằm ở đầu tây bắc của hồ Lucerne, nơi sông Reuss chảy ra khỏi hồ. Lucerne là trung tâm kinh tế và văn hóa của miền trung Thụy Sỹ.

Nền kinh tế của Lucerne dựa vào du lịch và thương mại. Thành phố cũng cung cấp các dịch vụ trong các lĩnh vực như vận tải, sức khỏe và tư vấn. Có bốn phẩy năm công việc trong khu vực dịch vụ tương ứng với một công việc trong công nghiệp hoặc nông nghiệp.

Lucerne có đường sắt kết nối trực tiếp tới hầu hết các thành phố Thụy Sỹ chính và tới Milan. Thành phố không chỉ được phục vụ bởi Đường sắt Liên Bang Thụy Sỹ, mà còn bởi công ty đường sắt tư nhân Zentralbahn.

Thành phố có một trường đại học nhỏ, và sẽ được mở rộng trong vài năm tới. Khoa thần học của trường đặc biệt rất nổi tiếng.

  • Bang: Lucerne
  • Diện tích: 24.15 km2 (9.324 dặm vuông)
  • Dân số (thành phố): 57,533 (2005)
  • Dân số (toàn bộ): 196,550 (điều tra dân số năm 2000):
  • Độ cao trên mực nước biển: 436 m (1430 ft)
  • Ngôn ngữ: Lucerne sử dụng tiếng Đức 

Lugano

Lugano là thành phố lớn nhất ở Ticino, khu vực nói tiếng Ý của Thụy Sỹ. Tuy nhiên, thành phố không phải là thủ phủ bang (Thủ phủ là Bellinzona).

Thành phố nằm trên bờ hồ Lugano, và được bao quanh bởi các quả núi, bao gồm Monte Brè, Monte San Salvatore và Sighignola. Biên giới với nước Ý nằm cách khoảng 8 km (5 dặm) từ trung tâm thành phố - ngoại ô của Gandria, giờ chính thức là một phần của thành phố, kéo dài tới tận biên giới.

Năm 2003, Lugano hợp nhất với các ngoại ô của thành phố, tạo nên một thành phố Nuova Lugano được mở rộng hơn nhiều. Thành phố giờ đây là thành phố lớn thứ 8 của Thụy Sỹ về diện tích bề mặt; trước đây là thứ 61.

Nhờ có các quả núi bao quanh và hồ, và thực tế rằng vị trí ở phía nam dãy Alps giúp cho thành phố có một khí hậu ôn hòa hơn hầu hết các vùng khác của Thụy Sỹ. Lugano là một địa điểm nghỉ lễ được ưa chuộng, và du lịch là một nguồn thu nhập quan trọng của thành phố.

Thành phố là trung tâm tài chính lớn thứ ba của Thụy Sỹ. Tất cả các ngân hàng Thụy Sỹ chính, cũng như một số các ngân hàng quốc tế tư nhân có văn phòng ở đó. Thương mại cũng đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế của thành phố.

Lugano là cơ sở chính của Đại học Università della Svizzera Italiana (trường Đại học vùng nói tiếng Ý của Thụy Sỹ), thành lập năm 1996, và có các mối liên kết gần gũi với các trường đại học miền Bắc nước Ý.

Thành phố có một sân bay nhỏ tại Agno, chủ yếu bay tới các sân bay Thụy Sỹ khác. Tuy nhiên, có một hệ thống dịch vụ vận chuyển bằng xe bus tư nhân nối thành phố với sân bay quốc tế Malpensa của Milan. Lugano nằm trên đường sắt nối miền bắc Thụy Sỹ với nước Ý qua Gotthard và có mối quan hệ thân thiết với các tỉnh của Ý bên kia biên giới.

  • Bang: Ticino
  • Diện tích: 30.2 km2 (11.66 dặm vuông)
  • Dân số (thành phố): 49,223 (2005)
  • Dân số (toàn bộ): 120,800 (điều tra dân số năm 2000)
  • Độ cao trên mực nước biển: 273 m (896 ft)
  • Ngôn ngữ: tiếng Ý

 

XI. KỲ QUAN.

Bảy kỳ quan

  • Lâu đài Chillon: gần Montreux
  • Vườn nho Lavaux: trên bờ Hồ Geneva
  • Lâu đài của Bellinzona: ở bang phía nam của Ticino
  • Tu viện St. Gallen
  • Đỉnh cao châu Âu và đài quan sát Sphinx: một "ngôi làng" với một bưu điện trên 3.500 mét Jungfraujoch cao trên Wengen
  • Grande Dixence: một mét đập cao 285, phía nam Sion
  • Cầu cạn Landwasser: trên tuyến đường sắt giữa Chur và Thánh Moritz

Bảy kỳ quan thiên nhiên

  • Matterhorn: từ Schwarzsee, Gornergrat hoặc chỉ đơn giản là từ làng Zermatt
  • Bức tường phía bắc của Jungfrau và Eiger: hai trong số những ngọn núi nổi tiếng nhất trong dãy Alps, họ có thể được nhìn thấy từ thung lũng Lauterbrunnen hoặc từ một trong nhiều hội nghị thượng đỉnh có thể đạt được tàu hoặc xe cáp
  • Sông băng Aletsch: dài nhất ở châu Âu, rừng Aletsch hoang dã nằm trên sông băng, tốt nhất nhìn từ phía Bettmeralp
  • Hồ Thượng Engadin Các: một trong những thung lũng dân cư cao nhất trong dãy núi Alps ở chân Piz Bernina, chúng có thể được nhìn thấy tất cả từ Muottas Muragl
  • Hồ Lucerne: từ Pilatus trên Lucerne
  • Oeschinensee: một hồ núi không có đối thủ trên Kandersteg
  • Thác sông Rhine: lớn nhất châu Âu, đi thuyền đến các tảng đá ở giữa của thác.

 

XII. CON NGƯỜI.

Thụy Sỹ có dân số khoảng hơn 7,7 triệu người. Trong đó người nước ngoài chiếm khoảng 20% dân cư thường trú. Độ tuổi trung bình đang tăng lên, khi dân số sống thọ hơn và có ít trẻ con hơn. 

Người Thụy S

Phong cách sống đang thay đổi vì người Thụy Sỹ phải thích ứng với những yêu cầu mới.

Xu hướng nhân khẩu học

Từ năm 1972 có ít trẻ con được sinh ra hơn số cần thiết để tiếp tục tăng trưởng dân số. Năm 1998 số người chết đã nhiều hơn số được sinh ra - lần đầu tiên xảy ra kể từ năm 1871.

Theo một dự báo phát hành năm 2004, giữa năm 2003 và 2012 số lượng trẻ trong độ tuổi đi học (7-15) sẽ giảm khoảng 100.000

Từ 1993 số lượng cư dân Thụy Sĩ đã tăng chỉ bởi vì số lượng người nước ngoài nhập quốc tịch.

Người nước ngoài

So sánh với các nước Châu Âu khác, số lượng người nước ngoài nhập quốc tịch Thụy Sỹ là khá thấp, mặc dù cứ mười người trưởng thành có quyền công dân của Thụy Sỹ trong năm 2001 thì có một người nhập quốc tịch. Từ năm 1992 đến 2005 số lượng nhập quốc tịch đã tăng ba lần. Ba phần tư số người nhập quốc tịch Thụy Sỹ đến từ Châu Âu. Một phần ba đã được sinh ra tại Thụy Sỹ.

Một phần ba số người sống ở Thụy Sỹ trong năm đó hoặc là người nhập cư hoặc con cháu của những người nhập cư, theo thống kê của Văn phòng thống kê Liên Bang.

Tỷ lệ người nước ngoài trong dân cư thường trú cao, khoảng 20,7% năm 2006, mặc dù họ phân tán rất không đều. Ở Châu Âu chỉ có Luxembourg và Liechtenstein có tỷ lệ cao hơn.

Tỷ lệ người nước ngoài trẻ em đặc biệt cao: cuộc điều tra dân số năm 2000 cho thấy trên 25,8% trẻ em dưới 6 tuổi không có quốc tịch Thụy Sỹ. Tại những thành phố lớn nhất 45% trẻ em trong độ tuổi này không phải là người Thụy Sỹ. Khoảng một phần năm trẻ em sinh ra tại Thụy Sỹ có ít nhất một bố hoặc mẹ là người nước ngoài.

Cuối năm 2006, 21,4% cư dân nước ngoài tại Thụy Sỹ đến từ một trong các bang của Nam Tư trước đây. Người Ý chiếm khoảng 18,9% trong số đó, tiếp theo là cư đân của Bồ Đào Nha (11,2%) và Đức (11,1%), Thổ Nhĩ Kỳ (4,8%), Pháp (4,7%) và Tây Ban Nha (4,4%).

Đa số cư dân người nước ngoài, năm 2006 là 86,5%, đến từ Châu Âu, nhưng tỷ lệ những người có quê nhà ở những đất nước xa hơn đang tiếp tục gia tăng.

Gần một phần tư số cư dân người nước ngoài này được sinh ra và lớn lên tại Thụy Sỹ; một số họ giờ đây có con cái - đó là những người nước ngoài thế hệ thứ hai.

Lịch sử di cư

Mặc dù ngày nay Thụy Sỹ là một nước giàu, cuộc sống không phải luôn dễ dàng, và cho tới Chiến tranh Thế giới II vẫn có nhiều người di cư hơn nhập cư. Hầu hết những người ra đi để tìm kiếm cơ hội thoát khỏi cái nghèo; một số họ có những kỹ năng có thể buôn bán. Một số chỉ ra đi tạm thời, trong khi những người khác tạo dựng một cuộc sống mới ở nước ngoài cho họ và gia đình họ.

Trong khoảng 450 năm kỹ năng được xuất khẩu nổi tiếng nhất của người Thụy Sỹ là làm lính. Ước tính rằng trong những năm từ 1400 đến 1848 hơn hai triệu lính đánh thuê Thụy Sỹ đã được tuyển dụng bởi quân đội nước ngoài.

Người Thụy Sở nước ngoài ngày nay

Hầu hết những người Thụy Sỹ sống ở nước ngoài ngày nay chỉ sống tạm thời. Nước Pháp trước nay có số lượng người Thụy Sỹ nhập cư lớn nhất, tiếp theo đó là Mỹ và Đức. Cuối năm 2006 tổng số người Thụy Sỹ có đăng ký sống ở nước ngoài là 645.010

Cư dân Thụy Sỹ ở nước ngoài được biết đến như “Thụy Sỹ thứ năm” - bốn thứ kia là các vùng ngôn ngữ. Thụy Sỹ cung cấp một số dịch vụ và phương tiện cho họ để giữ liên lạc với quê hương. Thụy Sỹ cũng hỗ trợ tài chính cho 16 trường học Thụy Sỹ ở nước ngoài, và dạy theo chương trình giảng dạy của Thụy Sỹ.

 

XIII. ĐẶC SẢN.

1. Bánh mì ở Thụy S

ZOPF – Bánh mì tết

 

Thụy Sỹ tự nhận có nhiều loại bánh mì hơn bất kỳ quốc gia nào khác – khoảng 200 đến 300 loại, không kém gì số pho-mát của họ.

Mỗi bang đều có ổ bánh mì truyền thống của chính họ, và còn có tất cả các loại bánh mì đặc biệt làm cho các dịp khác nhau: cho lễ rửa tội, đám cưới và đám ma, cho các ngày lễ tôn giáo và dịp carnival. Cũng chẳng ngạc nhiên khi có nhiều loại truyện ngắn và truyền thống gắn với các loại bánh mì này.

Nếu người Thụy Sỹ rất sáng tạo về những gì họ cho vào trong bánh mì và các kiểu nướng bánh, có lẽ không có gì ngạc nhiên vì họ đã có thời gian tích lũy vô số kinh nghiệm: tổ tiên của họ đã nướng bánh  mì ở đây gần 6.000 năm trước.

2. Pho-mát ở Thụy S

RACLETTE – Phô mai chảy

 

Pho-mát cứng, pho-mát mềm, pho-mát làm ở nông thôn, pho-mát làm ở những căn nhà trên núi, pho-mát làm ở các nhà máy trong thung lũng, pho-mát đóng trong hộp thông đỏ, pho-mát tan chảy trong rượu vang để tạo thành nước xốt, pho-mát nóng chảy nhỏ giọt trên khoai tây để làm raclette…. Pho-mát Thụy Sỹ rất nổi tiếng và làm pho-mát là một nghệ thuật tinh vi; mỗi giai đoạn trong quá trình đều ảnh hưởng tới vị pho-mát cuối cùng, từ loại cỏ đàn bò ăn và cho sữa, cho tới cách bảo quản – và thực sự, cả cách thức pho-mát được chế biến để ăn.

3. Sôcôla Thụy S 

Sô-cô-la ở Zurich ngon nổi tiếng thế giới

 

Thụy Sỹ và sôcôla     

Thụy Sỹ là một quốc gia nhiều đồi núi với khí hậu không phải nhiệt đới, không có bất kỳ thuộc địa nào trong các nước trồng cocoa ở Nam Mỹ, hay Châu Phi, hay bất kỳ đâu nhưng thật ngạc nhiên đất nước này lại là một trong những nhà sản xuất sôcôla hàng đầu thế giới.

Sôcôla  được làm như thế nào?    

Cây cacao nhiệt đới cho ra các quả to, mỗi quả chứa 20-40 hạt. Lượng “dầu cocoa” quan trọng nhất chiếm khoảng 50% của hạt. Ngay sau khi thu hoạch hạt được tách ra khỏi quả và để cho lên men trong vài ngày – một quá trình loại bớt vị đắng tự nhiên của chúng. Sau đó các hạt được phơi khô dưới ánh nắng mặt trời. Sau đó chúng được xuất khẩu để chế biến tiếp.

Quá trình chế biến bao gồm nghiền hạt và loại vỏ, và sau đó rang chúng. Giai đoạn tiếp theo là xay: bơ cocoa trong hạt hóa lỏng thành một thứ chất lỏng đặc sệt, cũng được gọi là “dung dịch sôcôla”. Một phần chất lỏng sẽ được giữ lại và phần còn lại sẽ được ép để lấy thêm dầu cocoa.

Các nhà sản xuất giờ đây có ba thành phần để chế biến tiếp:

  • Chất lỏng cocoa đặc sệt (chứa một ít dầu cocoa)
  • Dầu cocoa
  • Bánh cocoa (phần còn lại của chất lỏng sệt sau khi hầu hết dầu đã được ép ra). Chúng được nghiền và sàng để làm bột cocoa.

Cả sôcôla đắng và sôcôla sữa được làm bằng cách trộn chất lỏng cocoa sệt + dầu cocoa + đường + vanilla (hoặc triết xuất vanilla). Sữa bột được thêm vào tạo thành sôcôla sữa.

Các thành phần này được trộn và nhào, tạo thành một chất lỏng sệt khi được tiếp tục khuấy trộn liên tục sẽ hóa lỏng tạo thành sôcôla có hương vị cuối cùng và tổ chức êm dịu.

Sản phẩm cuối cùng được tạo thành bởi các quá trình rót, ép, bọc hay nặn sôcôla lỏng.

Sôcôla tại Thụy S              

Sản xuất sôcôla lần đầu tiên ở Thụy Sỹ khoảng năm 1750 bởi hai người Ý trong một xưởng trước đó là xưởng sản xuất giấy gần Bern, xưởng Schermenmühle. Nó đã không thành công: người dân địa phương không thích và xưởng phải chuyển sang sản xuất bột mì. Mặc dù vậy, cuối thế kỷ đó các nhà máy khác xuất hiện ở miền Tây Thụy Sỹ - Vevey, Morges và Lausanne – và trong thung lũng Blenio Valley ở bangTicino. Cửa hàng bán sôcôla đầu tiên được mở tại Bern năm 1792.

Các quy định của Hiệp hội Sôcôla Thụy Sỹ rất chặt, thậm chí còn áp dụng cho sôcôla do các chi nhánh nước ngoài cả các công ty thành viên sản xuất. Nếu bạn mua sôcôla được cho là của Thụy Sỹ, bạn có thể chắc chắn nó thực sự được sản xuất tại Thụy Sỹ – trái lại nó sẽ sớm biến mất khỏi thị trường.   

(The end)



Tin tức khác

Đầu tư định cư

Visa việc làm

Du học

Bất động sản

Đăng ký nhận tin