HUẤN NGHỆ GROUP -

Hotline: 098 8533 790

Tin tức khác / Du học Thụy Sỹ

TỔNG QUAN VỀ ĐẤT NƯỚC THUỴ SỸ
Ngày đăng: 27-12-2014

Thụy Sỹ là một quốc gia ở Trung Âu. Do vị trí địa lí đặc biệt nằm giữa nhiều nước lớn nên ngôn ngữ của Thụy Sỹ rất đa dạng. Đất nước này có tới 4 ngôn ngữ chính thức là tiếng Đức, tiếng Pháp, tiếng Ý và tiếng Romansh. Bên cạnh đó, Thụy Sỹ còn là nước có truyền thống lịch sử về sự trung lập. Đất nước này không xảy ra bất kỳ một cuộc chiến tranh nào từ năm 1815 đến nay và là trụ sở của nhiều tổ chức quốc tế quan trọng như Uỷ ban Chữ thập đỏ Quốc tế, Tổ chức Thương mại Thế giới. Thụy Sỹ là một quốc gia nhiều đồi núi với những phong cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp trên dãy núi Alps như những đỉnh núi cao, những dòng sông băng và nhiều hồ nước đẹp. Đất nước này còn nổi tiếng về ngành công nghiệp sản xuất đồng hồ và được biết đến như một trong những nền kinh tế thịnh vượng nhất thế giới.

 

I. KHÁI QUÁT CHUNG:

Quốc kỳ Thuỵ Sỹ

Quốc kỳ Thuỵ Sỹ

 

1.      Tên nước: Liên bang Thụy Sỹ (The Confederation of Switzerland); Ngoài ra còn có tên khác là "Confoederatio Helvetica", viết tắt là CH.

2.      Thủ đô: Bern (Bơn);

         Thành phố lớn nhất: Zurich

3.      Ngày Quốc khánh: Ngày 01 tháng 8 (năm 1921).

4.      Vị trí địa lý: Nằm ở Trung Âu (GMT+1); Phía Bắc giáp Đức, Nam giáp Ý, Tây giáp Pháp, Đông giáp Áo và Lichtenstein.

5.      Diện tích: 41.290 km2 (trong đó hơn 60% diện tích lãnh thổ là đồi núi, 30% là cao nguyên, vì thế Thụy Sỹ cũng nổi tiếng với phong cảnh tự nhiên hùng vĩ và đa dạng).

6.      Khí hậu: Chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương và lục địa nên ôn hòa, mát; nhiệt độ trung bình 12 độ C.

7.      Dân số: 7,9 triệu người (khoảng 21% là người nước ngoài).

8.      Dân tộc: Do hoàn cảnh lịch sử, Thụy Sỹ có 4 cộng đồng dân tộc chính: Cộng đồng nói tiếng Đức chiếm 2/3 dân số, sống ở miền Đông (vùng Luzern, Zurich, Basel…), giáp Đức và Áo. Cộng đồng nói tiếng Pháp chiếm 1/3 dân số, sống chủ yếu ở phía Tây Thụy Sỹ (vùng Lausanne và Genève), giáp biên giới Pháp. Khoảng 10% dân số nói tiếng Ý và số còn lại khoảng 7% dân số nói tiếng Roman, sống tại miền Nam giáp Ý.

9.      Ngôn ngữ: Tiếng Đức (63,7 %); tiếng Pháp (20,4 %); tiếng Ý (6,5 %); các ngôn ngữ khác (9,4 %).

10.  Tôn giáo: Thiên chúa giáo La mã (42 %); Tin lành (35 %); Đạo Hồi (4%).

11.  Đơn vị tiền tệ: Francs Thuỵ Sỹ (SFr/CHF) (CHF là ký hiệu ISO của đồng Franc Thụy Sỹ).

12.  GDP: 330 tỷ USD (2011)

13.  Thể chế: Thụy Sỹ theo chế độ cộng hòa với mô hình nhà nước liên bang, gồm 26 bang với thủ đô là thành phố Berne và hai trung tâm kinh tế lớn là Genève và Zurich.

-          Cơ quan lập pháp: Quốc hội Thụy Sỹ theo chế độ lưỡng viện, gồm Hội đồng Nhà nước (Council of States) tương đương Thượng viện và Hội đồng quốc gia (National Council) tương đương Hạ viện.

-          Cơ quan hành pháp: Cơ quan hành pháp của Thụy Sỹ là Hội đồng Liên bang (Federal Council) với chức năng như Chính phủ, có nhiệm kỳ 4 năm.

 

II. LỊCH SỬ:

Thụy Sỹ là một quốc gia hiền hòa và đã được hình thành khá sớm ở Châu Âu, là một trong những quốc gia theo chế độ liên bang lâu đời nhất trên thế giới (chỉ sau Hoa Kỳ). Các dấu vết cổ nhất về sự tồn tại của Hominidae ở Thụy Sĩ được xác định cách đây khoảng 150.000 năm. Những nơi định cư có hoạt động trồng trọt cổ nhất từng được biết đến ở Thụy Sỹ, được phát hiện ở Gächlingen, có tuổi khoảng 5300 TCN.

Những nền văn hóa của các bộ tộc sớm nhất đã được biết đến là Hallstatt và văn hoá La Tène, được đặt theo tên một địa chỉ khảo cổ ở La Tène trên bờ bắc của Hồ Neuchâtel. Văn hóa La Tène đã hình thành và phát triển mạnh vào cuối thời đại đồ đá khoảng từ 450 TCN, có thể do chịu ảnh hưởng từ các nền văn minh Hy Lạp cổ đại và Etrusca. Một trong những nhóm người quan trọng ở vùng Thụy Sỹ là Helvetii. Năm 58 TCN, trong trận Bibracte, quân đội của Julius Caesar đã đánh bại Helvetii. Vào năm 15 TCN, Tiberius, người được nhắm đến để làm hoàng đế La Mã thứ 2 và anh ông ta là Drusus, đã chinh phục Alps, sáp nhập khu vực này vào đế chế La Mã. Khu vực bị chiếm đóng bởi Helvetii – trùng tên với Confoederatio Helvetica – đầu tiên trở thành một phần của tỉnh Gallia Belgica thuộc La Mã và sau đó là tỉnh Germania Superior, trong khi phần phía đông Thụy Sỹ được sáp nhập vào tỉnh Raetia của La Mã.

Vào thời kỳ Trung Cổ, từ thế kỷ thứ 4, phần mở rộng phía tây của Thụy Sỹ ngày nay là một phần lãnh thổ thuộc vương quốc Burgundy. Alemanni đã định cư ở cao nguyên Thuỵ Sỹ trong thế kỷ 5 và trong các thung lũng của Alps trong thế kỷ 8, hình thành nên Alemannia. Vùng đất của Thụy Sỹ ngày nay thời đó được phân chia quản lý giữa vương quốc Alemannia và Burgundy. Toàn bộ khu vực trở thành một phần của đế chế Frankish mở rộng trong thế kỷ 6, sau chiến thắng của Clovis I trước Alemanni ở Tolbiac năm 504 và sau là sự thống trị Frankish của người Burgundians.

Trong suốt thời gian còn lại của thế kỷ 6, 7 và 8, các vùng của Thụy Sỹ tiếp tục chịu sự cai quản của Frankish (các vương triều Merovingian và Carolingia). Nhưng sau sự mở rộng của nó dưới thời Charlemagne, đế chế Frankish đã bị chia tách bởi hiệp ước Verdun năm 843. Các lãnh thổ ngày nay của Thụy Sỹ đã được chia thành Trung Francia và Đông Francia cho đến khi chúng được tái sáp nhận dưới thời cai trị của đế quốc La Mã thần thánh khoảng năm 1000.

Vào thế kỷ 13, con đường chạy qua Gotthard nằm ở tâm dãy núi Alps được hình thành và phát triển nhanh chóng trở thành điểm giao lưu, qua lại quan trọng về kinh tến – thương mại Bắc – Nam Châu Âu và trở thành điểm nằm trong tầm ngắm của các cường quốc Châu Âu. Tình hình đó đã đẩy các nhóm dân cư nơi đây lập ra các phường, hội rồi hình thành quốc gia Thụy Sỹ ngày nay, dưới các minh ước quân tử để bảo vệ và hỗ trợ nhau theo tính chất của một liên minh và chính thức ra đời ngày 1 tháng 8 năm 1291.

Sang thế kỷ 15 và đầu thế kỷ 16, các đơn vị hành chính độc lập trong liên bang (13 bang) đã trải qua một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng do tranh chấp về phạm vi ở một số vùng, khu vực tiếp giáp nhau. Nhưng trước nguy cơ ý đồ bành trướng của một số nước có biên giới chung với Thụy Sỹ đã nhanh chóng đưa ra các cuộc tranh chấp, giành giật nội bộ đi tới chấm dứt.

Sau khi những người chủ trương giữ Thụy Sỹ đứng ngoài cuộc chiến tranh 30 năm trên lục địa Châu Âu trong thế kỷ 17 giành thắng lợi, giữ được chủ quyền và nền độc lập của Thụy Sỹ, Chính phủ Liên bang Thụy Sỹ đã được quốc tế công nhận tại Hội nghị Hoà bình Westphalia, đặc biệt là tại Hội nghị Wien 1815, Thụy Sỹ cam kết theo đuổi quy chế trung lập có vũ trang và đã được luật pháp quốc tế bảo đảm.

Đến đầu thế kỷ 19, với sự cổ vũ của cuộc cách mạng tư sản Pháp, giai cấp tư sản Thụy Sỹ đã ra tuyên bố thành lập nhà nước Cộng hòa (Helvetic Republic) và đi tới việc chấm dứt chế độ phong kiến với cấu trúc nhà nước phong kiến cát cứ.

Sau cuộc nội chiến cuối cùng ở Châu Âu năm 1847, nhà nước liên bang lỏng lẻo đã được thay thế bởi một nhà nước liên bang gắn kết hơn, tuy nhiên tính chất tự trị của các bang, các xã về cơ bản vẫn tiếp tục được duy trì. Nhiều nội dung cơ bản trong Hiến pháp liên bang ngày nay là những nội dung được soạn thảo từ Hiến pháp Liên bang được ban hành từ 1847.

Được thành lập năm 44 TCN, Augusta Raurica là nơi định cư của người La Mã đầu tiên ở Rhine và hiện nằm trong số những di chỉ khảo cổ quan trọng ở Thụy S.

 

III. ĐỊA LÝ:

Bản đồ đất nước Thuỵ Sỹ

 

Thụy Sỹ có diện tích 41,285 km2 (15,940 dặm vuông). Diện tích sản xuất - diện tích không có hồ, sông, hoặc thực vật - chiếm 30,753 km2 (11,870 dặm vuông).

Tọa độ địa lý:

- Điểm cực phía bắc: N 47o 48’ 35’’

- Điểm cực phía nam: N 45o 49’ 08’’

- Điểm cực phía đông: E 10o 29’ 36’’

- Điểm cực phía tây: E 5o 57’ 24’’

Kéo dài qua phía bắc và nam của Alps ở Tây và Trung Âu, Thụy Sỹ trải dài qua những cảnh quan và khí hậu đa dạng trên một diện tích hạn chế với 41.285 kilômét vuông (15.940 sq mi). Khoảng cách từ bắc tới nam là 220 km (137 dặm) và từ đông sang tây là 350 km (217 dặm). Dân số của Thụy Sỹ khoảng 7,9 triệu, với mật độ trung bình khoảng 190 người/km². Phân nửa vùng lãnh thổ đồi núi phía nam của quốc gia này có ít dân cư hơn nửa phía bắc. Trong bang lớn nhất Graubunden, nằm toàn bộ trong Alps, có mật độ dân số chỉ có 27 người/km².

Các địa hình tương phản giữa vùng Matterhorn ở Alps Cao, vùng Sanetsch và cao nguyên ở Hồ LucerneThụy Sỹ nằm giữa Đường vĩ độ bắc 45° và đường vĩ độ bắc 48°, và kinh độ 5° và 11° đông. Quốc gia này có 3 kiểu địa hình cơ bản gồm Swiss Alps ở phía nam, Cao nguyên Thụy Sỹ, và dãy núi Jura ở phía bắc. Alps là dãy núi cao nhất chạy qua miền trung – nam của quốc gia này, chiếm 60% tổng diện tích của Thụy Sỹ. Trong số các thung lũng cao của Swiss Alps có nhiều sông băng, có tổng diện tích 1.063 km². Từ đây, có những thượng nguồn của nhiều sông lớn như sông Rhine, Inn, Ticino và Rhone, chảy theo 4 hướng chính trên toàn châu Âu. Mạng lưới thủy văn gồm nhiều vực nước ngọt ở trung và tây châu Âu như Hồ Geneva, Hồ Constance và Hồ Maggiore. Thụy Sỹ có hơn 1500 hồ, và chiếm 6% tổng lượng nước ngọt châu Âu. Các hồ và sông băng chiếm khoảng 6% diện tích của quốc gia này.

Có khoảng một trăm đỉnh núi Thụy Sỹ có độ cao gần hoặc cao hơn 4.000 mét (13.000 ft). Với độ cao 4.634 m (15.203 ft), Monte Rosa là đỉnh cao nhất, mặc dù Matterhorn (4.478 m/14.692 ft) có thể là đỉnh nổi tiếng nhất. Cả hai đỉnh này nằm trong Pennine Alps thuộc bang Valais. Đoạn Bernese Alps qua thung lũng Lauterbrunnen có 72 thác, nổi tiếng là Jungfrau (4.158 m/13.642 ft) và Eiger, và nhiều thung lũng đẹp như tranh vẽ trong khu vực. Ở đông nam dọc theo thung lũng Engadin, băng qua khu vực St. Moritz thuộc bang Graubünden, cũng là một nơi nổng tiếng; đỉnh cao nhất gần Bernina Alps là Piz Bernina (4.049 m/13.284 ft).

Khu vực đông dân cư phía bắc chiếm 30% diện tích cả nước được gọi là vùng đất trung tâm. Nó bao gồm các dạng địa hình đồi, gồm một phần rừng, một phần đồng cỏ, thường có các đàn gia súc chăn thả, hoặc trồng rau và các cánh đồng trái cây, nhưng nó vẫn là đồi núi. Hồ lớn nhất là Hồ Geneva (cũng được gọi là Lac Léman trong tiếng Pháp) tọa lạc ở miền tây Thụy Sỹ. Sông Rhone là nguồn nước ra và vào hồ Geneva.

Múi giờ:

Thụy Sỹ nằm trong múi giờ Trung Âu (Central European Time zone – CET hay Middle European Time zone - MET), múi giờ trước 1 giờ của giờ Greenwich (GMT + 1).

Giờ mùa hè (ngày bắt đầu sớm hơn 1 tiếng so với giờ mùa đông) bắt đầu từ đầu mùa xuân và kết thúc vào cuối mùa thu, chỉ cùng một giờ với các quốc gia của EU.

 

III. KHÍ HẬU VÀ CÁC MÙA:

Thụy Sỹ tuy là một quốc gia nhỏ bé nhưng khí hậu lại vô cùng đa dạng, khí hậu tại đây chịu ảnh hưởng và thay đổi theo từng khu vực địa lý.

Khí hậu:

Nhìn chung, khí hậu Thụy Sỹ chịu ảnh hưởng của khí hậu lục địa ôn đới với lượng mưa dồi dào, thời tiết ôn hòa, không quá nóng hoặc quá lạnh và độ ẩm trung bình. Điều kiện khí hậu tại đây có sự thay đổi giữa các bang và thời tiết cũng thường thay đổi đột ngột từ nắng đến mưa, điều này cũng làm nên sự đa dạng của đất nước Thụy Sỹ. Tại Thụy Sỹ, dãy Alps như một tấm lá chắn giữa hai miền Bắc – Nam, tạo sự khác biệt rõ rệt về thời tiết, khí hậu 2 miền và dễ nhận thấy mùa đông ở miền Nam dịu hơn ở miền Bắc. Thêm vào đó, lượng mưa cũng rất khác biệt.

  • Vùng phía Bắc và Đông (Basel, Luzern, St Gallen, Zurich)

Khí hậu ở miền Bắc khá ôn hòa, dễ chịu. Mùa đông lạnh giá, trong khi mùa hè có xu hướng ấm áp và nắng nhẹ. Tuy nhiên, nhiệt độ sẽ giảm ở khu vực miền núi Đông Thụy Sỹ, và một số đèo núi phủ đầy tuyết và băng giá.

  • Vùng phía Tây (Bern, Fribourg, Geneva, Lausanne, Neuchâtel)

Thời tiết tại cao nguyên phía Tây Thụy Sỹ cũng rất dễ chịu và ôn hòa: Nhiệt độ không quá 30ºC vào mùa hè, và hiếm khi thấp hơn -5ºC vào mùa đông. Trên dãy núi Jura, biên giới với Pháp, nhiệt độ chủ yếu thường khá lạnh.

  • Phía Nam (Lugano)

Ở Ticino, người dân chủ yếu sử dụng tiếng Ý, vùng phía Nam của dãy Alps, với hơn 298 ngày nắng một năm và nhiệt độ trung bình hàng ngày trong tháng 7 là trên 26 ºC.

Các mùa:

Các mùa được phân chia khá rõ ràng và mang những sắc thái đặc trung riêng.

  • Mùa xuân (tháng 3 – 5): cây cối ra hoa và đồng cỏ xanh trở nên xanh tươi, cả Thuỵ Sỹ khoác lên mình một màu xanh bao la bát ngát xen lẫn những khóm hoa dại. Mùa xuân ẩm và mát mẻ, tháng 4 nổi tiếng về sự thay đổi nhanh chóng và thường xuyên của các điều kiện thời tiết.

Băng tuyết tan chào đón mùa Xuân đến

 

Những chồi xanh ganh đua với những nụ hoa hé nở

 

Hoa khoe sắc dưới ánh nắng mùa Xuân

 

  • Mùa hè (tháng 6 – 8): Mùa hè ấm và khô với nhiệt độ tối đa lên tới 35°C (95°F). Nhiệt độ phụ thuộc chủ yếu vào độ cao, mức zero (0°C or 32°F) có thể có ở độ cao 4.000m trên mực nước biển. 

 

  • Mùa thu (tháng 9 – 11): Mùa hoa quả chín, sau đó lá cây chuyển sang màu nâu và rụng xuống. Mùa thu thường khô, nhưng mát. Nhiệt độ sẽ hạ xuống nhiều vào tháng 9 hoặc 10. Đây có lẽ là mùa có màu đẹp nhất, rực rỡ và phong phú nhất với những thảm lá vàng và đỏ.

Sông Aare vào mùa Thu

 

  • Mùa đông (tháng 12 – 3): Phong cảnh thay đổi hoàn toàn bởi tuyết trắng bao phủ khắp nơi. Mùa đông lạnh và khô. Nhiệt độ có thể xuống dưới 0°C ở khắp nơi trên đất Thụy Sỹ, đặc biệt vào ban đêm. 

Tuyết bao phủ những chiếc lá vàng còn sót lại của mùa Thu

 

Cánh rừng thông bạt ngàn tuyết trắng

 

IV. CHÍNH TRỊ.

Liên bang Thụy Sỹ là quốc gia trung lập, có đường lối chính trị hòa bình và phát triển quan hệ với các nước dựa trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau.

Thụy Sỹ đã chính thức trở thành thành viên thứ 190 của Liên Hợp quốc ngày 10/9/2002. Đây là biểu hiện sự điều chỉnh chính sách đối ngoại trung lập truyền thống mà Thụy Sỹ đã theo đuổi từ nhiều năm nay.

1. Thể chế:

Thụy Sỹ theo chế độ cộng hòa với mô hình nhà nước liên bang. Cấu trúc nhà nước liên bang theo 3 cấp: Chính quyền Liên bang (confederation), chính quyền bang (cantons) và chính quyền xã (communes). Nó gồm 26 bang (23 bang có thành viên Hội đồng liên bang).

Tổng thống: là Chủ tịch Hội đồng Liên bang luân phiên, được bầu chọn trong số 7 thành viên, có nhiệm kỳ 1 năm và không được tái bầu cho nhiệm kỳ tiếp theo. Tổng thống và Phó tổng thống thường kiêm luôn cả chức Bộ trưởng một bộ trong Hội đồng Liên bang. Tổng thống cho năm sau sẽ là Bộ trưởng giữ chức Phó tổng thống nhiệm kỳ trước. Tuy Tổng thống Thụy Sỹ không phải là chức vụ đứng đầu nhà nước hay chính phủ, song có chức năng tiến hành các cuộc họp của nội các và sẽ có tiếng nói quyết định khi cơ quan tối cao của nhà nước Thụy Sỹ là Hội đồng liên bang không thể nhất trí về một vấn đề.

Cơ quan lập pháp: Quốc hội Thụy Sỹ gồm có Hội đồng quốc gia (Hạ viện - National Council)  và Hội đồng nhà nước (Thượng viện - Council of States) gồm 246 nghị sĩ, nhiệm kỳ 4 năm.

  • Hội đồng Quốc gia có 200 nghị sĩ được bầu theo quy định của luật liên bang, được bầu từ 26 bang, mỗi bang là một đơn vị bầu cử. Số lượng nghị sĩ nhiều hay ít tùy thuộc vào dân số lượng cử tri trong từng bang.
  • Hội đồng Nhà nước có 46 nghị sĩ và được bầu theo quy định của từng bang.

Mỗi năm, Quốc hội Thụy Sỹ họp 4 kỳ, mỗi kỳ khoảng 3 tuần: kỳ họp mùa xuân, kỳ họp mùa hè, kỳ họp mùa thu và kỳ họp mùa đông. Ngoài ra, Quốc hội cũng có thể triệu tập phiên họp bất thường. Phiên họp đầu tiên của quốc hội mới sau khi bầu cử là việc bầu các thành viên của chính phủ: tổng thống, chánh văn phòng liên bang, chánh án tòa án tối cao, tòa án bảo hiểm, tòa án quân sự. Cứ mỗi dịp vào cuối năm, quốc hội lại bầu tổng thống, phó tổng thống và chủ tịch quốc hội cho năm sau.

Cơ quan hành pháp:  Hội đồng Liên bang gồm 7 ủy viên, nhiệm kỳ 4 năm. Hội đồng Liên bang do dân trực tiếp bầu ra. Mỗi ủy viên Hội đồng Liên bang là bộ trưởng ít nhất của một bộ và cũng làm bộ trưởng luân phiên. Một vấn đề trước khi quyết định, đều phải được thông qua 7 ủy viên Hội đồng Liên bang. Trường hợp không thống nhất được thì phải trình Quốc hội xem xét.

Lãnh đạo:

  • Tổng thống: Hiện nay, ông Didier Burkhalter đang là Tổng thống đương nhiệm – nhiệm kỳ 2014 của Thuỵ Sĩ và bà Simonetta Sommaruga sẽ thay thế ông Didier Burkhalter kể từ ngày 1/1/2015.
  • Phó Tổng thống: ông Johann Schneider-Ammann sẽ là Phó tổng thống nhiệm kỳ tới 1/1/2015, thay thế cho Phó tổng thống đương nhiệm là bà Simonetta Sommaruga.

2. Các đảng phái chính trị:

    Các đảng cánh tả:

  • Đảng Xã hội Dân chủ (SPS), thành lập năm 1880, hiện có khoảng 38.000 đảng viên (chiếm 21,5% ghế trong Quốc hội).
  • Đảng Lao động, thành lập năm 1920, có khoảng 1.200 đảng viên.

    Các đảng cánh hữu:

  • Đảng Dân chủ Thiên chúa giáo (CVP), thành lập năm 1848, hiện có khoảng 99.000 đảng viên (chiếm 20% ghế trong Quốc hội).
  • Đảng Nhân dân thiên hữu (SVP), hiện là đảng mạnh nhất trong Quốc hội (chiếm 23% ghế).

     Các đảng phái khác:

  • Đảng Dân chủ Tự do (FDP), thành lập năm 1919, hiện có khoảng 60.000 đảng viên (chiếm 20% ghế trong Quốc hội).  

 

V. KINH TẾ.

Thụy Sỹ là nước ít tài nguyên thiên nhiên, là đất nước của đồi núi với hơn 40 dãy núi cao trên 4.000 m so với mặt nước biển và nổi tiếng thế giới với dãy núi Alps. Song, Thụy Sỹ lại có mức phát triển vững mạnh đáng kể trên toàn cầu, tuy là nước nhỏ về diện tích và dân số, tài nguyên thiên nhiên nghèo nhưng Thụy Sỹ có vị trí quan trọng về kinh tế-tài chính.

Kinh tế Thụy Sỹ là một trong những nềny4kinh tếổn định nhất trên thế giới. Chính sách an ninh tiền tệ và giữ kín bí mật ở ngân hàng làm cho Thụy Sỹ trở thành một địa điểm an toàn cho các nhà đầu tư. Hệ thống Ngân hàng đặc biệt uy tín nổi tiếng nhất trên toàn cầu. Thụy Sỹ là một nước công nghiệp phát triển cao ở Châu Âu, trong đó có nhiều ngành đạt trình độ hàng đầu trên thế giới như: cơ khí chế tạo (nổi tiếng nhất thế giới về sản xuất đồng hồ chính xác và sang trọng), điện cơ, hóa chất, dược phẩm, thuốc tân dược, tài chính-ngân hàng, du lịch, đồng hồ, đồ trang sức, dịch vụ và bảo hiểm. Ngoại thương đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.

Thụy Sỹ là nước có mức sống cao, với GDP bình quân đầu người là 33.800 USD. Thụy Sỹ cũng là thành viên của nhiều tổ chức thương mại như OECD, WTO, EFTA, JEC.

Tỉ trọng các ngành kinh tế:

  • Nông nghiệp: 4,80%
  • Công nghiệp: 24,90%
  • Các ngành dịch vụ: 70,40%

Một số số liệu kinh tế:

  • Tổng sản phẩm quốc dân (GNP): 245,80 tỉ US$
  • TNQD theo đầu người (GDP): 34.206.8 US$
  • Tăng trưởng kinh tế: -0,3%
  • Xuất khẩu: 78,9 tỉ US$
  • Nhập khẩu: 80,1 tỉ US$

Sau nhiều năm liền kinh tế phát triển mạnh, năm 2003kinh tế Thụy Sỹ gặp nhiều khó khăn, nhiều ngành kinh tế mũi nhọn như chế tạo máy, thiết bị điện tử, sản xuất thép, cơ khí chính xác gặp nhiều khó khăn, ngoại thương giảm sút, thất nghiệp tăng (2,4%), lạm phát 1,2%. Năm 2004 kinh tế Thụy Sỹ đã trở nên ổn định hơn.

  • Đơn vị tiền tệ: Franc (CHF.) - (tỷ giá: 1USD = 1,22 CHF.)

 

VI. GIÁO DỤC.

Thuỵ Sỹ tự hào về nền giáo dục tiêu chuẩn cao của họ. Là một đất nước có ít tài nguyên thiên nhiên, sự thịnh vượng của quốc gia phụ thuộc rất lớn vào năng lực trí tuệ. Hầu hết mọi người tiếp tục học tập sau những năm tháng của quá trình giáo dục bắt buộc và nhiều người tham gia các khoá học nâng cao trong suốt cuộc đời họ. Trong lúc đó, hệ thống giáo dục phải đối mặt với những thách thức mới trong cuộc đối đầu với những sự thay đổi của xã hội và thế giới.

Hệ thống giáo dục Thuỵ Sỹ

Thuỵ Sỹ có một hệ thống giáo dục phi tập trung hoá cao. Bởi vì Thuỵ Sỹ không có các nguồn tài nguyên thiên nhiên, giáo dục và kiến thức trở thành những nguồn tài nguyên rất quan trọng. Do đó, Thuỵ Sỹ cần phải có một trong những hệ thống giáo dục tốt nhất thế giới. Do các bang chịu trách nhiệm về các dịch vụ giáo dục (mẫu giáo, các trường tiểu học và phổ thông, các trường đại học), sự giáo dục có thể rất khác giữa các bang. Ví dụ, một số bang bắt đầu dạy ngoại ngữ đầu tiên từ lớp bốn, trong khi các bang khác bắt đầu từ lớp bảy. Điều đó có thể dẫn tới một cơn ác mộng đối với học sinh giữa các bang. Phần tài chính cũng chủ yếu do các bang cung cấp.

Tại Thụy Sỹ, hầu hết học sinh đi học ở các trường công. Các trường tư thục thường đắt đỏ. Các trường công bao gồm trường tiểu học, trường trung học và đại học. Hầu hết các thành phố tự trị có nhà trẻ, trường tiểu học và trung học. Hầu hết các bang có ít nhất một trường trung học. Có tổng cộng mười hai trường đại học ở Thụy Sĩ, mười trường thuộc về các bang và hai trường do liên bang quản lý.

Thụy Sỹ không có một bộ trưởng giáo dục.  Tuy nhiên, một số mặt mang tính tổ chức của hệ thống giáo dục được áp dụng trên toàn quốc, bao gồm thời gian của năm học và số năm học bắt buộc.

Mỗi bang đều có người đứng đầu về lĩnh vực giáo dục. Tất cả những người này cùng nhau tạo nên Hội đồng các Bộ trưởng Giáo dục Bang của Thụy Sỹ (EDK theo tiếng Đức). EDK đóng vai trò quan trọng trong việc thảo luận và phối hợp chính sách giáo dục, và trong việc nhấn mạnh một số giá trị quan trọng.

Giáo dục nhà trường bắt buộc

Tổng quan  

Hệ thống giáo dục Thụy Sỹ được chia thành bốn cấp: mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở (secondary I) và trung học phổ thông (secondary II), đại học và trên đại học.

Cấp tiểu học và trung học cơ sở là bắt buộc, và kéo dài trong chín năm. Mặc dù tồn tại các trường tư, nhưng trẻ em hầu hết đều theo học tại các trường công lập.

Cấp mẫu giáo được cung cấp tài chính chủ yếu bởi địa phương. Tùy theo từng bang, trẻ em có quyền được học mẫu giáo trong một hoặc hai năm trước khi bắt đầu giai đoạn giáo dục bắt buộc.

Độ tuổi bắt đầu học tiểu học khác nhau tùy theo bang; trẻ nhất là 6 tuổi. Số lượng năm học cũng khác nhau: tại hầu hết các bang là 6 năm, nhưng có một số bang là 5 hoặc 4 năm.

Trung học cơ sở - Secondary I

Trung học cơ sở là cấp thứ hai của giáo dục bắt buộc. Các học sinh được cung cấp những kiến thức tổng hợp cơ bản. Có vài loại trường trung học cơ sở. Một số trường cung cấp các kiến thức có tính thực tiễn hơn, chuẩn bị cho trẻ học nghề trong tương lai; các trường khác lại mở rộng kiến thức tổng hợp của học sinh, giúp họ tiếp tục theo học ở cấp cao hơn. Cấu trúc của sự giáo dục ở cấp này – và theo tên của các loại trường khác nhau – thay đổi khá nhiều giữa các bang.

Các trường công lập có danh tiếng khá tốt. Trong các bài kiểm tra kiến thức học sinh quốc tế PISA năm 2000 và 2003 các trường công lập đạt kết quả tốt hơn so với kết quả của các trường dân lập.

Do đại đa số trẻ em - tới 95% - theo học tại trường công lập địa phương, những trường này đóng một vai trò quan trọng trong việc đưa những đứa trẻ với những điều kiện văn hóa, xã hội và ngôn ngữ khác nhau lại gần và hòa nhập với nhau.

Là một đất nước với bốn ngôn ngữ quốc gia,  Thụy Sỹ  rất coi trọng việc sử dụng đa ngôn ngữ. Trong quá trình giáo dục bắt buộc, trẻ em không chỉ học tiếng mẹ đẻ, mà còn học một ngôn ngữ quốc gia khác và tiếng Anh.

Giai đoạn sau giáo dục bắt buộc 

Tổng quan   

Từ độ tuổi 16, những học sinh muốn tiếp tục sự nghiệp học tập sẽ chuyển lên trung học phổ thông, thường kéo dài 3-4 năm. Đại đa số những người trẻ tuổi theo học một loại khóa trung học phổ thông nào đó. Trung học phổ thông cung cấp các khóa dạy nghề để trực tiếp tham gia vào thị trường lao động, hoặc giúp học sinh chuẩn bị lên học đại học.

Đào tạo nghề  

Hơn hai phần ba số người từ 16-21 tuổi chọn học nghề, bao gồm cả thực hành và lý thuyết.

Đại đa số những khóa học nghề như thế kéo dài 3 hoặc 4 năm, tùy theo lĩnh vực được lựa chọn. Học viên sử dụng hầu hết thời gian làm tại cho một công ty được chấp thuận nhưng đến trường dạy nghề học 1-2 ngày mỗi tuần. Học viên có thể lựa chọn một trong 300 hạng mục đào tạo nghề.

Những học viên vượt qua kỳ kiểm tra cuối cùng vào cuối khóa đào tạo cơ bản được trao một chứng chỉ liên bang được công nhận trên toàn quốc.

Từ 1993 các học viên có thể tham dự một bài thi lấy chứng chỉ tốt nghiệp trường kỹ thuật giúp cho họ có thể tiếp tục theo học tại một trường Đại học Khoa học ứng dụng chuyên ngành.

Chuẩn bị cho giáo dục đại học  

Khoảng 20% thanh niên Thụy Sỹ tiếp tục chương trình trung học tại một loại trường được gọi theo tiếng Đức như là Gymnasium và theo tiếng Pháp như là Gymnase cung cấp chương trình đào tạo tổng hợp lấy chứng chỉ tốt nghiệp, hoặc Matura, giúp họ đủ tiêu chuẩn vào trường đại học hoặc một trong hai Viện Kỹ thuật Liên Bang. Năm 2001, 18,5% số thanh tiên Thụy Sỹ 19 tuổi đạt được chứng chỉ Matura.

Có một loại hình thứ hai về trường đào tạo phổ thông ở cấp trung học phổ thông chuẩn bị các kiến thức cho các học sinh muốn tiếp tục học cao hơn trong các lĩnh vực y tế, hoạt động xã hội và nghệ thuật.

Giáo dục đại học và trên đại học

Tổng quan 

Thụy Sỹ cung cấp nhiều lựa chọn cho các sinh viên ở cấp giáo dục đại học và trên đại học. Có thể phân biệt giữa đào tạo tổng hợp và đào tạo chuyên ngành, hay phân biệt giữa các trường đại học tổng hợp và các trường kỹ thuật.

Đào tạo chuyên ngành chia thành hai cấp. Ở một cấp, các trường đại học khoa học ứng dụng đào tạo ở cấp đại học. Ở cấp kia, các trường cao đẳng kỹ thuật cung cấp các bằng cấp nghề và chuyên ngành. Hầu hết các trường ở cấp thứ hai này được hỗ trợ bởi các hiệp hội thương mại chuyên ngành có trách nhiệm tạo dựng và phê chuẩn các cuộc kiểm tra.

Các trường đại học tổng hợp 

Có 5 trường đại học tổng hợp trong khu vực nói tiếng Đức của Thụy Sỹ (Basel, Bern Zurich, Lucerne, St.Gallen), và 3 trong khu vực nói tiếng Pháp (Geneva, Lausanne, Neuchatel). Fribourg University sử dụng song ngữ tiếng Đức và tiếng Pháp. Từ 1996 có một trường đại học ở khu vực nói tiếng Ý Ticino, có trụ sở chính ở Lugano.

Viện Công nghệ Liên bang ở Zurich (ETHZ) và Lausanne (EPFL).

Chính phủ điều hành các Viện Công nghệ, trong khi các trường đại học truyền thống được quản lý ở cấp của các bang liên quan.

Các Trường đại học Khoa học Ứng dụng  

Hệ thống các trường đại học khoa học ứng dụng (UAS) được thành lập năm 1993 chuyên về đào tạo nghề cấp cao và tiếp tục mở rộng các lĩnh vực đào tạo.

Hệ thống cung cấp giáo dục ở cấp độ đại học bao gồm các kinh nghiệm làm việc thực tiễn. 15 trường sư phạm cũng thuộc về UAS.

Lựa chọn UAS thường phổ biến hơn với nam giới so với phụ nữ, mặc dù ngành sư phạm, y tế và hoạt động xã hội đã được thêm vào danh sách các môn học của UAS, và số lượng phụ nữ đã gia tăng đáng kể. Tính tổng thể, số sinh viên UAS là phụ nữ (năm 2003 và 2004) là 39%, nhưng trong các lĩnh vực công nghệ, xây dựng, và khoa học đời sống, phụ nữ chỉ chiếm 10% trong tổng số sinh viên UAS.

Hầu hết các trường thuộc UAS được quản lý ở cấp liên bang.

Các trường cao đẳng kỹ thuật   

Đào tạo nghề tại các trường cao đẳng kỹ thuật cũng là một phần của giáo dục cấp đại học. Có hơn 100 trường như vậy được quản lý ở cấp liên bang và các sinh viên tốt nghiệp sẽ có các kỹ năng để trở thành các quản lý cấp trung.

Giáo dục nâng cao  

Nhiều người tiếp tục làm mới và cải thiện các kỹ năng nghề nghiệp của họ sau khi hoàn tất các chương trình giáo dục chính quy. Các khóa học được cung cấp chủ yếu bởi các tổ chức tư nhân, lợi nhuận hoặc phi lợi nhuận. Các khóa học phi lợi nhuận có thể do các tổ chức thương mại hoặc các tổ chức chuyên ngành tổ chức. Các trường đại học và các viện đào tạo khác cũng cung cấp một số chương trình giáo dục nâng cao.

Giáo dục nâng cao có thể thực hiện dưới dạng các khóa học ở nhà với sách giáo khoa, hoặc băng đĩa hình hoặc các chương trình trợ giúp bởi máy tính.

 

VII. NGÔN NGỮ.

Thụy Sỹ có bốn ngôn ngữ quốc gia, nhưng số lượng người nói các ngôn ngữ đó rất khác nhau.

Tiếng Đức

Tiếng Đức là ngôn ngữ được nói nhiều nhất ở Thụy Sỹ: 17 trong số 26 bang chỉ nói tiếng Đức.

Tiếng Pháp

Tiếng Pháp được nói ở vùng phía Tây của đất nước, “Suisse Romande”. Bốn bang nói tiếng Pháp: Geneva, Jura, Neuchatel và Vaud. Ba bang sử dụng song ngữ: ở Bern, Fribourg và Valais nói cả tiếng Pháp và tiếng Đức.

Tiếng Ý

Tiếng Ý được nói ở Ticino và bốn thung lũng phía nam bang Graubunden.

Tiếng Rumantsch

Tiếng Rumantsch chỉ được nói ở bang Graubunden. Ngoài ra, hai ngôn ngữ khác được nói ở đó là tiếng Đức và tiếng Ý. Tiếng Rumantsch, như tiếng Ý và tiếng Pháp, là một ngôn ngữ có nguồn gốc Latin. Ngôn ngữ này chỉ được nói bởi 0,5% tổng dân số Thụy Sỹ.

Các ngôn ngữ khác

Nhiều cư dân người nước ngoài tại Thụy Sỹ đã mang theo với họ những ngôn ngữ của chính họ, ngoài tiếng Rumantsch và tiếng Ý. Cuộc điều tra dân số năm 2000 cho thấy những người nói tiếng Serbia/Croatia là nhóm ngôn ngữ nước ngoài lớn nhất, với 1,4% dân số. Tiếng Anh là ngôn ngữ chính cho 1%.

Tiếng Anh

Những người nước ngoài thường cho rằng trên thực tế có bốn ngôn ngữ quốc gia ở Thụy Sỹ có nghĩa là mọi người dân Thụy Sỹ nói bốn ngôn ngữ, hoặc ít nhất là ba. Tuy nhiên, sự thực lại rất khác.

Người Thụy Sỹ chắc chắn tự hào về sự thành thạo ngôn ngữ của họ và nhiều người hiểu các ngôn ngữ khác của những người đồng hương của họ rất tốt. Tuy nhiên, sự thành thạo các ngôn ngữ quốc gia đang giảm vì sự ủng hộ tiếng Anh. Thụy Sỹ dùng bốn thứ tiếng đang trở thành một Thụy Sỹ hai phẩy năm thứ tiếng. Nhiều người nói tiếng mẹ đẻ của họ và tiếng Anh và hiểu một ngôn ngữ quốc gia thứ hai.

Mỗi bang có quyền tự quyết định ngôn ngữ nào sẽ được dạy. Tại vùng nói tiếng Đức của Thụy Sỹ  trẻ em thường bắt đầu học tiếng Pháp từ khi 9 tuổi, trong khi những người nói tiếng Pháp cũng bắt đầu học tiếng Đức cũng ở tuổi đó. Ở vùng Ticino và vùng nói tiếng Romantsch, cả tiếng Pháp và tiếng Đức đều được học trong cấp học bắt buộc (tiểu học và trung học). Để giảm nhẹ khối lượng, trẻ em có thể giảm tiếng Pháp khi họ bắt đầu học tiếng Anh từ năm thứ 8.

Bộ trưởng Giáo dục của Zurich đã tạo ra một cuộc tranh luận cấp quốc gia năm 2000 khi tuyên bố rằng bang của ông dự định chọn tiếng Anh là ngoại ngữ thứ nhất, thay vì tiếng Pháp. Những người ủng hộ chỉ ra rằng tiếng Anh có ích hơn trên thế giới. Họ nói rằng trẻ em và các bậc cha mẹ thích tiếng Anh và vì động cơ thúc đẩy là một thành phần quan trọng trong việc học ngôn ngữ, các học sinh có vẻ học tiếng Anh thành công hơn là học tiếng Pháp.

Những người phản đối lại thấy những quyết định đó là một mối đe dọa cho sự thống nhất của Thụy Sỹ, và lo sợ rằng những người nói tiếng Pháp và tiếng Ý sẽ gặp nhiều bất lợi vì họ vẫn cần nói tốt tiếng Đức để có thể thăng tiến trong nghề nghiệp ở Thụy Sỹ.

 

VIII. VĂN HOÁ VÀ GIẢI TRÍ.

Văn hóa Thụy Sỹ

Sự pha trộn của các nền văn hoá khác nhau đã cho Thuỵ Sỹ cơ hội thừa kế một nền văn hoá, phong tục tập quán vô cùng đa dạng và phong phú. Các lễ hội diễn ra quanh năm và trên khắp đất nước Thụy Sỹ không chỉ làm phong phú thêm đời sống tinh thần của người dân Thuỵ Sỹ mà còn lôi cuốn, hấp dẫn một lượng lớn khách du lịch. 

Các chương trình ca nhạc được tổ chức ở khắp nơi với các dòng nhạc từ dân gian, cổ điển tới rock, pop và jazz. Các lễ hội chính trong năm gồm có: Advent và Christmas, Carnival, Lễ Phục Sinh, và Ngày Quốc Khánh. Tùy theo mùa có các lễ hội tại các địa phương khác nhau, như các lễ hội trong mùa đông (Trychle tại Meiringen, Epiphany, Secular festivals, Silvesterkläuse, Vogel Gryff tại Kleinbasel và các phong tục khác); các lễ hội mùa xuân ở Zurich; vào cuối mùa hè có các lễ hội tại nhiều khu vực ở vùng núi Alps với sự tham gia của đàn bò và gia súc; các lễ hội mùa thu được tổ chức ở nhiều bang mừng cho một mùa thu hoạch và dự trữ cho mùa đông. Lễ hội bia lớn nhất trong năm diễn ra vào cuối tháng 9 tại bang Neuchatel, ngoài ra còn nhiều lễ hội mang ý nghĩa lịch sử hay tôn giáo khác do các bang tổ chức.  

Giải trí ở Thụy Sỹ

Người Thụy Sỹ nổi tiếng là những người làm việc chăm chỉ, nhưng họ cũng thích những lúc rảnh rỗi như tất cả mọi người khác. Các hoạt động giải trí bao gồm từ các môn thể thao mệt nhoài tới thư giãn với gia đình và bè bạn. Nhiều người còn cống hiến một phần thời gian nhàn rỗi của họ cho các dịch vụ công cộng.

Thời gian nghỉ  

Người Thụy Sỹ làm việc rất nhiều, nhưng họ cũng biết hưởng thụ thời gian nghỉ của họ. Sử dụng thời gian với bạn bè, đọc sách báo và đi dạo là những hoạt động phổ biến nhất. Hơn nửa dân số tham gia một vài hoạt động thể thao ít nhất một lần một tuần. Một nghiên cứu cho thấy xem tivi cũng là một hoạt động nghỉ ngơi được ưa chuộng.

Âm nhạc  

Menuhin Festival ở Gstaad

 

Thụy Sỹ nổi tiếng với các lễ hội âm nhạc, từ cổ điển cho tới rock.

Các liên hoan âm nhạc cổ điển hàng năm nổi bật gồm có các festival ở Lucerne trong kỳ lễ Phục Sinh và mùa hè, Menuhin Festival ở Gstaad và Snow and Symphony trong khu nghỉ dưỡng của St. Moriz.

Mùa hè có hàng loạt các festival nhạc rock và nhạc pop ngoài trời, thu hút các fan từ trong nước và nước ngoài: St Gallen, Montreux, Gurten ở Bern, Paléo, Rock Oz'Arènes ở Avenches và Montreux Jazz Festival.

Thậm chí trong mùa đông cũng có một chương trình nhạc rock ngoài trời: SnowpenAir ở Kleine Scheidegg tại Bernese Oberland.

Thụy Sỹ có hàng trăm ban nhạc kèn đồng và ban nhạc giao hưởng nghiệp dư. Họ có thể được tổ chức ở cấp thành phố hay làng, hoặc bởi các đoàn thể có liên quan tới nghề nghiệp. Họ thường biểu diễn trên đường phố trong những dịp lễ hội hay trong các cuộc thi.

Bảo tàng 

Thụy Sỹ có khoảng 1.000 bảo tàng, một trong những mạng lưới bảo tàng dầy đặc nhất thế giới, với 1 bảo tàng cho mỗi 7.500 người. 

Các hoạt động thể thao  

Khao khát phiêu lưu 

Thụy Sỹ, với những ngọn núi, những cây cầu và các con đập là một quốc gia lý tưởng cho những ai mà sự giải trí là rời xa cuộc sống thường ngày và thử nghiệm những cảm giác, thách thức mới.

Một số du khách thích chơi trò nhảy “bungee”, nhảy từ một cây cầu hay một điểm cao nào đó chỉ với một dây cao su buộc vào người, hay một trò mới nguy hiểm hơn đang được ưa chuộng trong thời gian gần đây là nhảy từ một vách đá hoặc một tòa nhà cao sử dụng một chiếc dù. Vài thung lũng ở Thụy Sỹ rất thích hợp với môn thể thao này và thu hút những người chơi đến từ trong nước và quốc tế.

Các môn thể thao phối hợp 

Mọi người ở các độ tuổi khác nhau có thể tham gia các môn thể thao ba môn phối hợp hay nhiều môn phối hợp, marathon và bán-marathon. Thụy Sỹ là một phần của các cuộc thi nhiều môn phối hợp quốc tế.

Đi bộ đường dài 

Một mạng lưới 60.000 đường mòn bao phủ khắp đất nước. Đi bộ đường dài khá phổ biến, đặc biệt là ở khu vực nói tiếng Đức và những người lớn tuổi. Các đường mòn được cắm biển chỉ dẫn rất tốt. Các tấm biển màu vàng có ở khắp mọi nơi, với thông tin về các điểm đến hay tên của con đường, và thường có chỉ dẫn về thời gian đi bộ, khoảng cách và độ cao.

Các môn thể thao dưới nước

Trên nhiều bờ hồ ở Thụy Sỹ có những người tắm nắng hay bơi lội trong những ngày hè ấm ấp - một số khu vực có cả những bãi cát nhỏ, hoặc những thảm cỏ trên đó người ta trải những tấm khăn tắm. Thông thường, có những cầu tàu bằng gỗ dẫn ra những chỗ sâu hơn của hồ; đôi khi người ta lắp đặt cả những cầu nhảy.

Các môn thể thao mùa đông 

Những người sống ở Thụy Sỹ không phải đi xa để tới một trong nhiều khu nghỉ dưỡng hấp dẫn cả khách du lịch nước ngoài đến quốc gia này trong mùa đông. Nhưng thể thao không bao giờ đứng yên, và trong những năm gần đây có một sự bùng nổ những môn thể thao mới và bằng những cách thức mới để tăng sự hấp dẫn của các môn thể thao này. 

 

IX. CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI VÀ AN NINH.

Thụy Sỹ theo đuổi chính sách đối ngoại trung lập nhằm giữ độc lập và bảo vệ lợi ích dân tộc, tăng cường vị thế trên thế giới. Chính sách đối ngoại trung lập là công cụ quan trọng, xuyên suốt và là nội dung chủ yếu của nền ngoại giao Thụy Sỹ từ 1815 tới nay.

Thụy Sỹ nhấn mạnh chính sách đối ngoại phải dựa trên luật pháp. Luật pháp quốc tế là công cụ để bảo vệ quyền lợi các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia nhỏ và quan hệ quốc tế cần được tiến hành trên các quy định của luật pháp quốc tế. Do đó, việc tôn trọng pháp luật quốc tế là điểm đặc trưng và nguyên tắc trong chính sách đối ngoại của Thụy Sỹ.

Thụy Sỹ chưa bao giờ thực hiện chính sách đối ngoại trung lập theo một định chế cứng nhắc mà sử dụng chính sách này như một công cụ thích hợp trong từng thời kỳ để bảo vệ lợi ích quốc gia. Chính phủ Thụy Sỹ cho rằng tuy chiến tranh lạnh đã kết thúc, nhưng tình hình chính trị, an ninh thế giới vẫn căng thẳng, mất ổn định, nguy hiểm, chính sách trung lập vẫn là một công cụ thích hợp cho việc thực thi chính sách đối ngoại và an ninh của mình. Thụy Sỹ cam kết không đứng vào bên nào trong các cuộc xung đột theo trách nhiệm và nghĩa vụ luật quốc tế quy định đối với các quốc gia trung lập. Mặc dù là nơi đặt trụ sở lớn thứ hai của Liên Hợp Quốc (sau New York), đến năm 2002, Thụy Sỹ mới gia nhập tổ chức này và là một trong những thành viên trẻ tuổi nhất. Những mục tiêu chủ yếu trong chính sách đối ngoại trung lập của Thụy Sỹ:

- Cùng tồn tại hòa bình giữa nhân dân các dân tộc;

- Thúc đẩy và tôn trọng nhân quyền;

- Phát triển môi trường bền vững;

- Đại diện cho lợi ích của doanh nghiệp Thụy Sỹ ở nước ngoài;

- Chống đói nghèo trên thế giới.

Thụy Sỹ có quan hệ ngoại giao với hầu hết các nước trên thế giới và tham gia vào nhiều Tổ chức quốc tế như: Liên Hợp quốc (UN), Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp quốc (UNIDO), Tổ chức An ninh và Hợp tác Châu Âu (OSCE), Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Hội nghị của Liên Hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO), Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO), Tổ chức Cảnh sát Hình sự Quốc tế (Interpol), Câu lạc bộ Paris, ASEM…

Cho đến nay Thụy Sỹ chưa gia nhập EU, nhưng EU là đối tác quan trọng nhất của Thụy Sỹ cả về chính trị và kinh tế, gắn bó với EU bằng sự gần gũi về địa lý và văn hóa. 60% xuất khẩu của Thụy Sỹ là vào EU và nhập khẩu từ EU chiếm 80% kim ngạch nhập khẩu. Thụy Sỹ đã ký với EU nhiều Hiệp định song phương quan trọng, bao trùm hầu hết các lĩnh vực kinh tế, thuế quan, an ninh, nông nghiệp, tự do đi lại, thông tin, môi trường... Từ tháng 12/2008, Thụy Sỹ chính thức gia nhập Hiệp ước Schengen (quy định công dân nước ngoài có visa với thời hạn dưới 90 ngày của một nước tham gia Hiệp ước được phép đi lại tự do tới các nước tham gia còn lại), đánh dấu mốc mới trong quá trình hội nhập của Thụy Sỹ vào châu Âu thời kỳ sau chiến tranh lạnh.

(Còn tiếp)

Để được tư vấn chi tiết, xin vui lòng liên hệ:

Ms. Kim Xuyến- CÔNG TY CP TƯ VẤN DU HỌC VÀ ĐÀO TẠO HUẤN NGHỆ

141C Đặng Văn Ngữ P. 14, Quận Phú Nhuận, TP.HCM

ĐT: 0908761717

Email: kimxuyen9003@gmail.com

 Skype : kimxuyendang92.mlm

 

 



Tin tức khác

Đầu tư định cư

Visa việc làm

Du học

Bất động sản

Đăng ký nhận tin